Chia sẻ

Đền Đa Hoà

09/04/2024

Đền Đa Hòa có tên tự là Đa Hoà chính từ, người dân thường gọi là đền Đa Hòa theo tên địa danh hành chính của thôn. 

Đền Đa Hoà nằm trên khu đất cao ráo, thoáng mát, cây cối xanh tươi bao phủ tại thôn Đa Hoà, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Đền nằm cạnh bờ sông Hồng, nhìn sang bãi Tự Nhiên, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Nơi đây phong cảnh sông nước hữu tình, thuyền bè tấp nập ngược xuôi. Người dân sống hòa đồng với thiên nhiên, ruộng đồng, cây cối xanh tươi.

Đền Đa Hoà, xã Bình Minh được xây dựng lên để tôn thờ Đức thánh Chử Đồng Tử, người đã được nhân dân suy tôn là một trong “tứ bất tử” của linh thần Việt Nam cùng nhị vị phu nhân là Tiên Dung công chúa - con gái Vua Hùng và Tây Sa công chúa. Ba vị là người có công giúp dân mở chợ buôn bán làm ăn, chữa bệnh cứu dân,…Khi hóa các vị được nhân dân lập đền thờ cúng và suy tôn là một trong “tứ bất tử” của linh thần Việt Nam.

Đền được khởi dựng từ sớm, qua thời gian biến thiên của lịch sử, ngôi đền cũ cũng không còn. Đến thời Nguyễn (1894) niên hiệu Thành Thái thứ 17, Quan Án sát tỉnh Hưng Yên là tiến sỹ Chu Mạnh Trinh, người làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, huyện Đông Yên, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên (Nay là xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên) đứng ra vận động nhân tài, vật lực trong nhân dân 8 thôn thuộc tổng Mễ Sở và thập phương công đức tu bổ lại đền trên nền móng của ngôi đền cũ với quy mô lớn như hiện nay. Tương truyền, đền được dựng trên thế đất hình lòng thuyền, bản thiết kế kiến trúc do chính tay tiến sỹ Chu Mạnh Trinh vẽ ra.

Đền nằm trên khu đất cao ráo, thoáng mát với tổng diện tích khoảng 18.720m2 và được dựng kiểu “Nội công ngoại quốc”, tổng cộng có 18 hạng mục công trình lớn nhỏ khác nhau nằm dải rác trên một trục thần đạo, trải dài từ nhà bia vào đến hậu cung. 18 nóc nhà lớn nhỏ là ý tưởng của người thiết kế muốn nhắc nhở người đời sau nhớ tới thiên tình sử của nàng công chúa Tiên Dung khi ấy vừa tròn 18 tuổi và thiên tình sử này diễn ra vào đời Vua Hùng Vương thứ 18.

Hiện nay, 18 hạng mục công trình không còn trọn vẹn nhưng các hạng mục còn lại cũng cho thấy được quy mô, bề thế của công trình kiến trúc. Các hạng mục bao gồm: nhà bia (trấn Giang Lâu), gác chuông, gác khánh, ngọ môn, thảo xá, thảo bạt, nhà ngựa, thiêu hương, cung đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, phương đình, dinh Chu Mạnh Trinh, dinh thổ thần …

Cảnh quan sân vườn

Đền Đa Hòa tọa lạc trong khuôn viên thoáng rộng, cây xanh bao phủ. Nhiều cây có tuổi thọ lên đến hàng trăm năm như cây nhãn, cây muỗng, cây đa,…. Đáng chú ý và có giá trị hơn cả là hàng cây sưa đỏ bên phải đền và một số cây trồng rải rác quanh đền. 

Trấn Giang Lâu

Trấn Giang Lâu hay còn gọi là Đình bia, đây là công trình đầu tiên nằm soi bóng bên dòng Hồng Hà. Đình bia dựng hoàn toàn bằng gỗ kiểu phương đình gồm 4 cột chính ở giữa và bốn hàng cột nhỏ xung quanh. Mái dựng kiểu chồng diêm hai tầng tám mái đao cong, đầu đao đắp hình đầu rồng. Mái lợp ngói mũi đỉnh mái đắp đôi kìm chầu mặt nhật. Phần cổ diêm mặt trước đề hai chữ hánh “Bi đình” (Đình bia); mặt sau đề ba chữ “Trấn Giang Lâu” (Lầu trấn giang). Ở trung tâm Đình bia đặt một tấm bia khắc hai mặt chữ với nội dung ghi chép lại quá trình xây dựng đền. Bia có niên đại thời Nguyễn niên hiệu Thành Thái.

Cổng đền

Cổng đền là hai trụ biểu dựng đối diện nhau nhìn thẳng vào khu nội tự. Đế trụ thắt quả bồng, thân vuông, trên ô lồng đèn không trang trí hoa văn. Đỉnh cột đắp đôi nghê chầu nhìn nhau. Cột trụ lớn là biểu tượng cho sự vươn lên của mảnh đất, con người nơi đây.

Lầu chuông, lầu khánh

Trên con đường dẫn vào khu thờ chính còn có hạng mục Lầu chuông, lầu khánh nằm đối diện nhau. Lầu được dựng với bốn cạnh vuông vắn, mở ra bốn cửa thông thoáng. Phần mái được dựng kiểu chồng diêm, hai tầng tám mái, các đầu mái đao uốn công. Đỉnh mái đắt đôi kìm chầu mặt nhật. Trên gác chuông treo quả chuông đồng lớn có kích thước cao 1,68m, đường kính 0,84m, chuông được đúc năm Nhâm Thìn (1894). Trên thân chuông ghi bài minh với nội dung ghi tên những người đóng góp tiền của để đúc chuông và cũng ghi quá trình dựng đền. Ở gác khánh treo một chiếc khánh đá có kích thước cao 1,95m; rộng 1,05m; dày 0,1m. Khánh đá được làm năm Khải Định thứ 7 (1922), mặt trước khánh chạm long vân chầu mặt nhật. Mặt sau chạm hổ phù và các đám mây.

Ngọ Môn

Ngọ môn hay còn gọi là cửa đón ánh nắng mặt trời. Ngọ môn mở ra ba cửa gồm cửa chính và hai cửa phụ làm bằng gỗ, hai bên hồi xây tường chắn, mái lợp ngói ta, đường bờ nóc đắp lưỡng long chầu nhật, bờ giải làm kiểu dật cấp. Nâng mái là hệ thống vì được làm kiểu chồng rường. Mặt trước và sau ngọ môn được làm thành chấn phong gỗ, bên trên chấn phong trang trí các đề tài tứ linh, tứ quý, cổ đồ,… Các bức chấn phong ở giữ ghi chữ Hán với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của đền.

Thảo bạt

Qua Ngọ môn là đến sân đền. Trước kia, nơi đây dựng một toà nhà lớn làm bằng gỗ, chạm hoa văn. Qua thời gian, toà này bị xuống cấp, địa phương đã dỡ bỏ để làm sân. Hai bên sân là dãy Thảo bạt, mỗi dãy 5 gian làm bằng gỗ. Các bộ vì được kết cấu vì kèo đơn giản. Thảo bạt dùng làm nơi sắp lễ trong những dịp hội hè đình đám.

Tòa Tiền tế

Tiền tế gồm 5 gian 2 dĩ làm kiểu tường hồi bít đốc, tường trước làm cửa bức bàn, tường sau để trống tạo sự thông thoáng cho di tích. Mái lợp ngói mũi, đường bờ nóc đắp lưỡng long chầu nhật, đường bờ giải xây dật cấp, nền nhà lát gạch Bát. Cửa bức bàn gồm 5 luồng, mỗi luồng cửa bốn cánh. Các cánh cửa làm bằng gỗ theo kiểu Thượng song hạ bản (Phần trên trấn song, bên dưới nguyên bản). Toàn bộ cánh mặt trước trang trí tứ quý, mặt trong bào trơn. Bộ khung chịu lực tòa Tiền tế làm bằng gỗ vững chắc với hai hàng cột cái và hai hàng cột quân. Toàn bộ cột được kê trên chân tảng bằng đá vững chắc. Các bộ vì được kết cấu giồng nhau theo kiểu giá chiêng con nhị kê lên đấu vuông. Trên các con rường được chạm thành hình hoa lá cách điệu vân xoắn.

Toà đại bái được trang trí bằng hệ thống các bức hoành phi, câu đối, trâm thư,… sơn son thếp vàng rực rỡ làm cho toà nhà vừa linh thiêng và đẹp đẽ. Ngoài ra, trên cột còn trang trí một số bức cửa võng sơn thếp, cửa võng được chạm lộng, bong kênh các chủ đề: tứ linh, tứ quý, lưỡng long chầu nguyệt, rồng cách điệu, hổ phù, ngũ phúc, hoa cúc dây,…

Tại gian chính giữa toà đại bái đặt ban thờ công đồng để thờ những người có công với làng với nước. Nhang án làm bằng gỗ có niên đại thời Nguyễn. Nhang án cao 1,2m; dài 3,1m; rộng 1,2m; bốn mặt nhang án chạm tứ linh, tứ quý,… Trên nhang án đặt một số đồ thờ tự như: lư hương, hạc đồng, bát hương đồng, đài thờ, lục bình …

Nhà thảo xá, nhà ngựa

Toà Tiền tế cách toà thiêu hương một khoảng sân rộng lát gạch bát, giữa sân đặt một lư hoá vàng lớn làm bằng đồng. Lư đúc năm Bính Tý niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (1936). Lư hương làm kiểu chân quỳ dạ cá mặt hổ phù ngậm chữ thọ, hai bên quai tạo tác hình con rồng, mặt trước đề 4 chữ Hán “Đa Hoà chính từ” (Đền chính Đa Hòa), mặt sau là “Bản tổng cúng tiến”.

Hai bên sân dựng hai dãy nhà thảo xá, mỗi dãy 5 gian làm bằng gỗ. Kết cấu các bộ vì Thảo xá kiểu vì kèo đơn giản không trang trí hoa văn. Cạnh dãy Thảo xá là nhà ngựa một gian, bốn mái đao sắc nhọn. Mái lợp ngói ta, cửa ra vào làm kiểu vòm cuốn. Một bên đặt ngựa trắng và một bên đặt ngựa đỏ.

Thiêu hương

Toà thiêu hương và các tòa nhà phía trong làm cao hơn các tòa nhà phía ngoài. Thiêu hương tu sửa năm 2021, dựng kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, lợp ngói ta. Đường bờ nóc đắp lưỡng ngư chầu hổ phù ngậm chữ thọ. Giữa đường bờ giải mái trên đắp hai con sô ngoảnh đầu xuống. Các đầu đao uốn cong hình lá cách điệu. Nâng đỡ bộ khung mái là tám cột gỗ lim vững chắc, ở bốn góc được làm thành các con dội, con vác, những đầu đao, bờ nóc chạm gọt tỷ mỷ, trang trí kỳ công. Ở bốn góc dưới các đấu chạm thành búp sen trúc xuống dưới. Thiêu hương treo một số đôi câu đối, đại tự có nội dung ca ngợi công thần.

Ngoài ra, nơi đây còn đặt ban thờ công đồng. Trên ban thờ để một số đồ thờ tự như: lư đồng cao 1,1m, đường kính 0,9m; đỉnh đồng có kích thước cao 1,9m, đường kính 1,4m, bát hương,….

Cung đệ tam

Qua toà Thiêu hương là đến Cung đệ tam gồm ba gian hai dĩ làm kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, đường bờ nóc đắp lưỡng long chầu nhật. Cửa làm kiểu bức bàn, các cánh cửa nguyên bản không trang trí hoa văn. Nâng đỡ bộ vì là hệ cột gỗ lim vững chắc kê trên chân tảng bằng đá. Các bộ vì kết cấu kiểu giá chiêng con nhị đơn giản kê trên đấu vuông. Gian trung tâm đặt ban thờ Chử Đồng Tử và Nhị vị phu nhân. Ngai làm kiểu chân quỳ dạ các mặt hổ phù ngậm chữ thọ, quanh đế trang trí long vân, hoa dây. Thân ngai làm kiểu chấn song con tiện chạm long vân. Tay ngai hình đầu rồng. Bài vị đế vuông, thân trang trí long vân, diềm hình đao lửa, chán trang trí hình mặt nhật. Thân bài vị khắc chữ hán với nội dung ghi tến, thần vị của các ngài.

Hai gian bên cạnh đặt ban thờ Bát xã (dân của tám xã ngày xưa thuộc tổng Mễ Sở) và các liệt sỹ của thôn.

Cung đệ nhị

Tiếp đến là Cung đệ nhị gồm ba gian hai dĩ, nối tiếp với cung đệ tam. Các bộ vì được kết cấu theo kiểu giá chiêng con nhị đơn giản không trang trí hoa văn. Gian trung tâm đặt ban thờ Ba vị thành hoàng. Tượng làm bằng gỗ, tạo tác trong tư thế ngồi trên ngai đặt trong khám lớn. Tượng Đức thánh Chử ngồi ở giữa, đầu đội mũ cánh chuồn, hai tay đặt lên gối. Nhị vị phu nhân ngồi bên cạnh, đầu đội vương miện, khuôn mặt tròn phúc hậu.

Phương đình, miếu thờ Thổ thần và Dinh thờ tiến sĩ Chu Mạnh Trinh

Phương đình: Nằm cạnh cung đệ nhị và đệ nhất (Hậu cung) được dựng kiểu tứ trụ với bốn cột gỗ vững chắc, phần trên chồng diêm hai tầng tám mái đao uốn nhọn, lợp ngói ta, đỉnh mái đắp đôi kìm chầu mặt nhật. Phương đình đặt một lư hương bằng đồng rất lớn dùng để hóa vàng.

Miếu Thổ thần và Dinh thờ tiến sỹ Chu Mạnh Trinh được dựng đối diện nhau. Hai hạng mục này dựng một gian hai tầng mái đơn giản. Mái làm giả ngói ống, phần cổ diêm trang trí hoa dây,..Bên trong đặt ngai bài vị thờ. Miếu Thổ thần phía trên, Dinh thờ Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh phía dưới, ngoài ngai và bài vị thờ còn một cây đàn là di vật của ông để lại.

Cung đệ nhất hay còn gọi là Hậu cung

Hậu cung là công trình cuối cùng của khu chính đền đây là nơi linh thiêng và trang trọng nhất của toàn bộ ngôi đền được dùng để thờ Thành hoàng. Hậu cung gồm ba gian dựng kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, mở ra ba luồng cửa bức bàn. Các cánh cửa làm bằng gỗ nguyên bản bào trơn đóng bén không trang trí hoa văn. Kết cấu các bộ vì Hậu cung làm kiểu vì giá chiêng con nhị đơn giản kê trên đấu. Toàn bộ vì được nâng đỡ bằng hệ thống quá giang ăn mộng vào cột phía trước ẩn trong hệ thống cửa bức bàn và cột cái phía sau. Gian trung tâm đặt một khám thờ lớn, mặt trước khám chạm lưỡng long chầu nguyệt. Trong khám đặt ba pho tượng Đức thánh Chử và Nhị vị phu nhân. Tượng được đúc bằng đồng, sơn thếp vàng bên ngoài. Tượng có niên đại vào khoảng thời Nguyễn. Tượng tạo tác trong tư thế ngồi trên ngai. Ở giữa là Chử Đồng Tử, đầu đội mũ cánh chuồn; hai bên là Nhị vị phu nhân đầu đội vương miện. Đây có thể coi là bộ tượng quý hiếm cần được bảo lưu gìn giữ dài lâu. 

Ngoài ra, tại đây còn lưu giữ một chiếc lọ được mọi người gọi là Bách Thọ vì xung quanh thân trang trí bằng 100 chữ thọ khác nhau. Xưa kia, vẫn tồn tại một đôi lọ bách thọ, song do kẻ gian đột nhập lấy cắp, không biết do sự linh ứng của thành hoàng hay không nhưng khi chúng mang đi rồi sau đó lại phải trả lại đền. Nhưng đáng tiếc một chiếc đã bị vỡ, chiếc còn lại trên miệng cũng bị sứt một ít. Bách thọ là một cổ vật đầy quý hiếm và có giá trị.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hoà vào không khí đánh giặc của quê hương. Đền Đa Hoà cũng góp một phần không nhỏ trong không khí khẩn trương ấy. Năm 1943, đền là nơi tổ chức quyên góp áo vải mùa đông tặng chiến sỹ. Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, tại đền các đồng chí cán bộ Cách mạng về trú ẩn nhằm tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hàng năm, vào những dịp: Ngày mùng 4 tháng Giêng  m lịch là ngày sinh công chúa Tiên Dung; ngày mùng 10/2  m lịch là ngày sinh nàng Nguyễn (Tây Sa); ngày 1/4  m lịch là ngày công chúa Tiên Dung tắm ở bãi Tự Nhiên; ngày 2/5  m lịch giỗ quan thành hoàng bản thổ; ngày 12/6  m lịch giỗ thân mẫu Chử Đồng Tử; ngày 12/8  m lịch thi cỗ mừng sinh nhật Đồng Tử; ngày mùng 10/10  m lịch giỗ thân phụ Đồng Tử; ngày 17/11  m lịch là ngày Tam vị hoá tức là ngày Chử Đồng Tử và Nhị vị phu nhân về trời. Tiêu biểu và đông vui nhất trong năm tại đền là ngày hội rước nước vào tháng Giêng  m lịch sau Tết do nhân dân địa phương tổ chức.

Ngày 1/3/2023, tại đền Đa Hòa, xã Bình Minh (Khoái Châu) diễn ra lễ công bố Quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chứng nhận Lễ hội đền Đa Hòa được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Chia sẻ

Thảo luận (0)

Hình ảnh

Bảo tàng số gia đình - Ghi lại quá khứ - Lưu giữ hiện tại - Viết tiếp tương lai
Bảo tàng số gia đình - Ghi lại quá khứ - Lưu giữ hiện tại - Viết tiếp tương lai
Bảo tàng số gia đình - Ghi lại quá khứ - Lưu giữ hiện tại - Viết tiếp tương lai
Bảo tàng số gia đình - Ghi lại quá khứ - Lưu giữ hiện tại - Viết tiếp tương lai
Bảo tàng số gia đình - Ghi lại quá khứ - Lưu giữ hiện tại - Viết tiếp tương lai
Bảo tàng số gia đình - Ghi lại quá khứ - Lưu giữ hiện tại - Viết tiếp tương lai

Danh sách

Bia đá

Đàn tranh

Chuông đền Đa Hòa: là quả chuông đồng lớn được treo trên gác chuông ở Lầu chuông, có kích thước cao 1,68m, đường kính 0,84m, chuông được đúc năm Nhâm Thìn (1894). Trên thân chuông ghi bài minh với nội dung ghi tên những người đóng góp tiền của để đúc chuông và cũng ghi quá trình dựng đền.

Bằng công nhận di tích của Bộ Văn Hoá trao tặng

Bằng công nhận lễ hội là di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia

Bức đại tự cổ

Bức đại tự cổ

Bức đại tự cổ

Bức đại tự cổ

Tin mới

Khám phá hầm trú bom dưới khách sạn Metropole bằng VR3D

Khám phá hầm trú bom dưới khách sạn Metropole bằng VR3D

Tham quan ảo|17/04/2025

Khám phá hầm trú bom dưới khách sạn Metropole lịch sử bằng công nghệ thực tế ảo. Trong quá trình cải tạo Bamboo Bar của khách sạn danh tiếng Sofitel Legend Metropole Hà Nội, đội thi công tình cờ phát hiện mái của một hầm trú ẩn bị chôn vùi đã lâu. Vào tháng 8-2011, khi đào sâu hơn hai mét vào lòng đất, đội thi công đã chạm phải khối bê tông cốt thép kiên cố.

Lời giới thiệu từ đội ngũ Danh gia sử ký

Lời giới thiệu từ đội ngũ Danh gia sử ký

Lời giới thiệu|19/06/2025

Chào mừng bạn đến với "Danh gia sử ký" , Bảo tàng số gia đình, một nơi đặc biệt mang trong mình giá trị vô giá của gia đình và dòng họ. Trong thời đại công nghệ số phát triển, việc lưu giữ và truyền tải di sản văn hóa dòng họ qua nhiều thế hệ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết

Thành cổ Quảng Trị – mỗi tấc đất là một tấc máu xương

Thành cổ Quảng Trị – mỗi tấc đất là một tấc máu xương

Lịch sử|10/06/2025

Trong trận đánh kéo dài từ ngày 28/6 – 16/9/1972, hàng nghìn chiến sĩ Giải phóng đã hi sinh trong tòa thành lịch sử. Rất nhiều người trong số đó mới ở độ tuổi 18, đôi mươi, là những chàng sinh viên “gác bút nghiên” lên đường bảo vệ Tổ quốc.

Tộc ước - gia pháp

Tộc ước - gia pháp

Lời giới thiệu|12/07/2024

Để tỏ lòng tôn kính Tổ Tiên, thực hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và tăng cường mối quan hệ tình cảm huyết thống, thế thứ họ hàng của dòng Họ Nguyễn, phù hợp với xã hội mới, nền văn hoá mới của đất nước. Đồng thời để kết hợp hài hoà giữa việc tổ chức sinh hoạt dòng họ với các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống trong địa bàn dân cư”

Ưu điểm của việc số hóa gia phả trong việc bảo tồn di sản gia đình.

Ưu điểm của việc số hóa gia phả trong việc bảo tồn di sản gia đình.

Văn hóa|28/03/2024

Số hóa gia phả mang lại nhiều ưu điểm vượt trội, giúp lưu giữ những câu chuyện, truyền thống và giá trị văn hóa quý báu của gia đình qua các thế hệ. Hãy cùng khám phá những lợi ích không thể phủ nhận của việc số hóa gia phả trong bài viết dưới đây.